Lan Hài Bóng - Paphiopedilum Vietnamense

Lan Hài Bóng - Paphiopedilum Vietnamense

Đây là bài viết giới thiệu về lan Hài Bóng, không phải hàng bán

MÔ TẢ: Loại lan đất với 3-5 lá mọc thành 2 hàng. Lá dai như da, từ hình trứng tới hình bầu dục-thuôn, chóp tù với hai thuỳ không bằng nhau, dài 8-17(20) cm, rộng 2,5-7 cm, có đốm khảm xanh lá cây thẫm và xanh xám bóng, đôi khi có mép trắng trong dễ thấy, có đốm tím và gờ lồi sắc ở mặt dưới, nhãn hoặc có lông rìa trắng thưa thớt ở gốc. Cụm hoa dựng đứng, l-2 hoa; cuống dài 15-25 cm, đường kính 4 mm, tím-tía hoặc nâu-tía, có lông trắng hoặc nâu sáng dày đặc; lá hoa hình trứng rộng, nhọn, gập đôi, dài 1,8-3 cm, rộng 1,6-2 cm, xanh lá cây nhạt có đốm tím rất đẹp. Hoa rất to so với kích cỡ của cây, rộng 10-12 cm, cao 8-9 cm; lá đãi trắng hoặc hồng có đốm hồng-tía về chóp; cánh hoa trắng, hồng hoặc tía thẫm có đốm tím ở hai phần ba tới ba phần tư về chóp; môi trắng, hồng hoặc tía với một vết tím thẫm ở phía trước đặc biệt là quanh mép, có đốm tím thẫm ờ trong; nhị lép to, vàng chanh, trắng ở mép với phần giữa xanh ôiiu; cuống hoa và bầu dài 2,5-2,8 cm, xanh-vàng nhạt có điểm tím rất đẹp, có lông trắng dày đặc. Lá đãi lưng thẳng, hơi uốn ngược lại ở mép bên, từ hình bầu dục tới hình trứng ngược, nhọn và có rãnh tới chóp, dài 4,2-5,1 cm, rộng 2,5-3 cm, có lông tơ trắng ở mặt ngoài, có cạnh ở phía ngoài. Lá đãi hợp từ hình bầu dục tới hình trứng, 2 răng, dài 3-4,6 cm, rộng 3-3,3 cm, có lông to ở mặt ngoài, mép có lông trắng, có cạnh ở phía ngoài mặt bên. cánh hoa cong vào trong hoặc quay xuống, hình bầu dục thuôn tới hình trứng ngược, tù cho tới tròn ở chóp, dài 5-6 cm, rộng 3,3-4,5 cm, có lông tơ mịn ở 2 mặt, lông tơ trắng ở gốc, phần dưới của mép bên đôi khi uốn cong rõ rệt. Môi gần giống mỏ vẹt, hình lọ sâu, gần tròn, dài 3,5-4 cm, rộng 2,5-4 cm, loe ra ở gốc, với mép đỉnh cong vào trong và có rãnh dọc theo gân. Cột nhị nhụy ngắn, dài 5-7 mm; nhị lép lồi, hình thoi rộng hoặc hình mũi tên rộng, cụt đầu, có lông rìa trắng ở mép, dài 17-25 mm, rộng 15-20 mm, cong về chóp; núm nhụy hình thìa, có nhú rất ngắn; bao phấn có hạt phấn khô.




PHÂN BỐ: Bắc Việt Nam (tỉnh Thái Nguyên).
SINH THÁI: Rừng nguyên sinh rậm, thường xanh, ẩm, cây lá rộng trên núi đá vôi kết tinh bị bào mòn, cao từ 350 tới 550 m.
THỜI GIAN NỞ HOA TRONG THIÊN NHIÊN: Tháng 3
TÌNH TRẠNG BẢO TỒN THEO IUCN: EW

GIỚI THIỆU: Lan Hài Bóng Paphiopedtlum vietnamense là một trong những loài Lan Hài đẹp kỳ lạ nhất với lá có đốm khảm và hoa to, màu tím hay đỏ-hồng. Loài này có mối quan hệ rất gần gũi với p.delenatii sống trong một khu vực núi rất hẹp của nam Việt Nam. Ngoài việc phân cách về mặt địa lý, hai loài này còn khác nhau rất rõ ràng về hình dạng bao hoa và lá. Paphiopedilum vietnamense có lẽ là loài có phạm vi phân bố hẹp nhất trong số các loài Lan đặc hữu của Việt Nam. Lịch sử của sự phát hiện và sự khai thác tiếp theo đối với loài Lan nổi tiếng này ở Việt Nam là một ví dụ đáng buồn về tốc độ tàn phá tài nguyên thiên nhiên của những kẻ buôn lan quốc tế bất hợp pháp.
LỊCH SỬ: Việc phát hiện ra Paphiopedilum vietnamense có liên quan tới các hoạt động của một công ty thương mại cổ phần Việt Nam-Nhật Bản đóng gần Hà Nội. Vào tháng 6 năm 1997, sau khi được thành lập, công ty này đã tổ chức thu mua các loài Paphiopedilum của Việt Nam một cách rộng rãi bằng cách lôi cuốn các người dân địa phương trên khắp bắc Việt Nam cùng tham gia. Mẫu vật đầu tiên của Paphlopedllum vietnamense được tìm thấy nằm giữa một số lượng khổng lồ các loài Lan hài Paphiopedilum được thu từ ngoài thiên nhiên và tập trung tại vườn ươm của công ty vào tháng 5-6 năm 1998 (Tanaka, 1998). Một tháng sau đó, rất nhiều cây của loài này đã xuất hiện trên chợ đen quốc tế do bị những người buôn lan xuất khẩu một cách bất hợp pháp sang rất nhiều nước. Từ những quan sát các cây trong vườn ươm của công ty và những vườn khác ở Đài Loan, Châu Âu, Nhật Bản và Hoa Kỳ cho thấy dường như có hàng nghìn cây Paphiopedilum vietnamense đã được thu mua ngay khi nó mới được phát hiện.

Cây Paphiopedilum vietnamense đầu tiên ra hoa tại vườn ươm tư nhân bên ngoài lành thổ Việt Nam đã tạo cơ sở cho việc mô tả loài này. Cùng một thời gian, đã có một vài tên được công bố như: p.vietnamense (Gruss & Pemer, 1999a), p.hilmari (Senghas & Schettler, 1999a) và p.mirabile (Cavestro & Chiron, 1999). Tên Paphiopedilum vietnamense được ưu tiên hơn các tên khác vì được công bố sớm hơn một tuần hoặc một tháng. Tất cả các tên này đều dựa trên những cây được thu từ thiên nhiên và được xuất khẩu bất hợp pháp ra khỏi Việt Nam. Tất cả những cây Paphiopedilum vietnamense xuất hiện trên thị trường quốc tế chắc chắn đều bắt nguồn từ cùng một nơi (Averyanov et al., 2000). Tuy nhiên, thông tin về nơi mọc tự nhiên của loài này còn bị nghi ngờ. Những người dân địa phương thu mẫu để bán và những người buôn Lan bất hợp pháp đã giữ bí mật về nguồn gốc tự nhiên của loài này (Senghas & Shettler, 1999b). Theo các tác giả của những tên đã được liệt kê ở trên nguồn gốc của chúng được cho là từ vùng núi đá vôi của các tỉnh Cao Bằng, Hà Giang hay khu vực bắc của tỉnh Tuyên Quang, Việt Nam (Gruss & Pemer, 1999a; Grass, 2000, Tanaka, 1998, 1999; Senghas & Schettler, 1999a,b; Cavestro & Chiron, 1999).

Một lượng lớn Paphlopedilum vietnamense được xuất khẩu là một bằng chúng rõ ràng cho thấy loài đặc hữu vô cùng hiếm này của Việt nam đang đứng trên bờ vực của sự tuyệt chủng ngoài thiên nhiên do việc thu mẫu ồ ạt nhằm mục đích thương mại. Được tài trợ của Tổ chức Bảo tồn Động thực vật Hoang dã Quốc Tế (FFI) và Quĩ Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ (USA. NSF), Averyanov và Phan Kế Lộc đã tiến hành các cuộc điều tra dài ngày tại các tỉnh thuộc bắc Việt Nam vào năm 2001 nhằm phát hiện quần thể tự nhiên của Paphiopedilum vietnamense. Cuối cùng thì loài này đã được tìm thấy với số lượng vô cùng ít ở một khu vực rất nhỏ hẹp trên các dãy núi đá vôi thấp thuộc trung tâm tỉnh Thái Nguyên. Khu phân bố nguyên sinh của chúng không vượt quá 60-80 km2. Đây là một ví dụ rất hay về tính đặc hữu hẹp của một vài loài của hệ thực vật Việt Nam.

Xí nghiệp khai thác chì lâu đời nhất ở đất nước này nằm gần nơi Hài Bóng mọc. Người Pháp đá khai thác quặng ở đây trong nhiều năm. Khu vực này rất dễ đến và loài cây nổi bật này có lẽ chắc chắn phải được người Pháp biết đến từ trước. Rất có thể là thông tin đầu tiên về loài Lan Hài Việt Nam có hoa màu hồng ở bắc Việt Nam là dựa trên loài này (Guillaumin, 1924).
Thông qua những cuộc thảo luận với dân địa phương, chúng tôi đã khám phá ra toàn cảnh việc thu mẫu Paphiopedilum vietnamense trong những năm gần đây. Việc thu mẫu không thể kiếm soát được gia tăng một cách nhanh chóng do người dân địa phương phối hợp với những người buôn Lan bắt đầu tiến hành chỉ vài ngày sau khi loài này được phát hiện. Theo những người dân địa phương thu mẫu để bán, loài Paphiopedilum vietnamense phổ biến và phong phú ở nhiều nơi trong khu vực hẹp này trước khi xảy ra việc thu mua. Chúng mọc thành các đám lớn với rất nhiều cây có hoa có thể gặp dễ dàng ở không xa làng xóm và đường mòn.

Trong suốt năm 1998, một số lượng lớn Lan Hài Bóng đã được những người buôn Lan thu mua với giá 1-2 đô la Mỹ cho 1 kg. Trong 2 năm tiếp theo phần lớn quần thể Paphiopedilum vietnamense đã bị huỷ diệt do việc thu mẫu quá mức trong khu vực phân bố tự nhiên có một diện tích nhỏ của nó. Chỉ còn một vài cây sót lại được tìm thấy sau các cuộc tìm kiếm quy mô của người dân địa phương vào năm 2001 và đã được rao bán. Cũng trong đợt nghiên cứu năm 2001 chỉ có một vài cây giống con đã được tìm thấy ở khu vực này và chúng chắc sẽ bị thu để bán trong một tương lai gần do đã được định giá cao. Bằng cách này, "Những người yêu lan" nước ngoài giàu có tiếp tục phá hoại nốt những quần thể cuối cùng của loài Lan quý hiếm này. Hiện tại, Việt nam thiếu biện pháp để ngăn chặn tình trạng này. Thật đáng tiếc là nếu không có những hành động bảo vệ có hiệu quả và kịp thời thì loài Paphiopedllum vietnamense sẽ trở nên tuyệt chủng ở ngoài thiên nhiên trong tương lai vô cùng gần.

NƠI SỐNG: Paphiopedilum vietnamense mọc ở khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa với một mùa đông lạnh và một mùa hè nóng ẩm. Mùa đông tương đối khô với thời kỳ khô hạn 4-5 tháng, kéo dài từ tháng 11 đến tháng 2 hoặc 3, điển hình cho các núi ở đất thấp của khu vực này. Mùa hè ở đây ẩm với lượng mưa cao nhất vào các tháng 6, 7, 8. Lượng mưa trung bình năm vào khoảng 2050 mm nhưng lượng mưa ở sườn nam và đông nam, nơi Paphíopedilum vietnamense mọc thường cao hơn, có thể đạt tới 2200-2500 mm. Thảm thực vật nguyên sinh rất ẩm ở đây đã cho thấy nơi sống của Paphlopedllum vietnamense có độ ẩm cao hơn so với bình thường. Chế độ nhiệt ở khu vực này thể hiện sự phân mùa rõ rệt. Mùa đông với nhiệt độ khá lạnh kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4, xuống thấp tới khoảng 14-16°c. Mua phùn kéo dài rất phổ biến từ đầu tháng 2 đến cuối tháng 3. Mùa hè rất nóng và ẩm, nhiệt độ cao nhất có thể tới 35-40°C nhưng thường thì nhiệt độ trung bình mùa hè vào khoảng 26- 27°c (Hình 53).

CÁC SỐ LIỆU KHÍ HẬU TẠI TRẠM KHÍ TUỢNG THÁI NGUYÊN (21°35'B 105°50’Đ, cao 36 m)
THEO NGUYỄN KHANH VÂN ET AL (2000).
Tháng 01 02 03 04 05 06 07 08 09 10 11 12
1 15,7 17,0 19,7 23,5 27,1 28,4 28,4 28,0 26,9 24,1 20,9 17,4
2 . 27 37 53 126 238 333 401 353 256 151 51 25
Chú thích: 1 — nhiệt độ trung bình tháng (°C); 2 — lượng mưa trung bình tháng (mm)


DẪN LIỆU KHÍ HẬU TẠI TRẠM KHÍ TUỢNG LẠNG SƠN (21°50'B 106°46'Đ, cao 259 m) THEO BRUZON & CARTON (1930).
Tháng 01 02 03 04 05 06 07 08 09 10 11 12
1 31,6 36,4 36,7 38,2 39,8 36,1 37,0 36,4 36,2 34,3 32,6 31,1
2 14,2 14,8 18,3 22,2 26,1 27,4 27,4 27,3 25,9 22,8 18,8 15,4
3 0,9 0,4 5,4 6,6 11,1 16,0 19,6 19,2 13,6 7,6 2,3 0,4
4 26 53 51 88 170 202 283 272 165 71 38 20

1 - Nhiệt độ (°C) tối đa trung bình tháng; 2 - Nhiệt độ trung bình tháng; 3 - Nhiệt độ tối thấp trung bình tháng; 4 - Lượng mua trung bình tháng (mm)


Đa phần các quần thể Lan Hài Bóng sống ở nơi râm mát, chủ yếu ở sườn bắc dốc và ở những vách cao 350-450 m của những dãy núi đá vôi có đỉnh cao nhất 500-600 m. Đá ở đây là đá vôi trắng thuần hoặc đen, kết tinh kiểu cẩm thạch, cứng, bị bào mòn nhiều và chính chúng đã tạo nên cảnh quan đá vôi cacxtơ hùng vĩ với vô số những hố, hang, hẻm núi rất hẹp và sâu.
Rừng nhiệt đới rậm, thường xanh, ẩm, cây lá rộng, giàu và đa dạng loài đã tạo điều kiện thích hợp cho các quần thể Paphiopedilum vietnamense phát triển trước khi việc thu mua diễn ra (Hình 50). Những cây gỗ lớn như Burretiodendron hsienmu (Tiliaceae) có thể cao tới 25-30 m là loài ưu thế của tầng cây gỗ cao nhất. Trong tầng này, các loài như Diospyros (Ebenaceae), Lithocarpus, Quercus (Fagaceae), Fernandoa (Bignoniaceae), Manglietia (Magnoliaceae), Cinnamomum, Persea (Lauraceae), Pterospermum truncatolobatum (Sterculiaceae), Chukrasia tabularis (Meliaceae), Choerospondias axillaris, Allospondias lakonensis và Dracontomelum duperreanum (Anacardiaceae) cũng rất phố biến. Các tầng thứ 2 và thứ 3 bao gồm tập hợp các loài cây nhiệt đới ưa ẩm cao 5-20 m với vô số các loài cây của họ Araliaceae (Schefflera, Brassaiopsis glomerulata), Elaeocarpaceae (Elaeocarpus), Euphorbiaceae (Cleidion), Lauraceae (Cryptocarya, Litsea), Moraceae (Ficus, Streblus tonkinensis, s. ilicifolius), Myrtaceae (Syzygium), Rubiaceae, Rutaceae (Micromelum, Murrava), Sapindaceae (Dimocarpus longan), Staphyleaceae (Turpinia) và Sterculiaceae (Sterculta). Những loài Cau lớn như Arenga pinnata và Livistona chinensis, và những cây hóa gỗ mọc trên đất và đá như Dracaena cambodiana và Pandanus sp., rất tiêu biểu cho kiểu rừng này. Các cây bụi và nửa bụi là Ilex sp. (Aquiíbliaceae), Leea indica (Leeaceae) và Lysimachia insignis (Primulaceae). Những cây thân cỏ lớn ưa ẩm như Aglaonema, Alocasia, Amorphophallus paeonifolius, Arisaema, Colocasia (Araceae), Alpinia, Amomum (Zingiberaceae), Costus speciosus (Costaceae), Curculigo (Hypoxidaceae), Musa (Musaceae) và Phrynium (Marantaceae) rất phong phú và nổi bật.

Ở khu vực này thành phần các loài cỏ rất phong phủ gồm những loài của các họ Acanthaceae, Balsaminaceae (Impatiens), Begonỉaceae (Begonia), Convallariaceae (Aspidistra, Ophĩopogon, Peliosanthes teta), Prưnulaceae (Lysimachia insỉgnis), Rubiaceae (Ophiorrhiza), Taccaceae (Tacca plantaginea) và Urticaceae (Elatostema,Laportea, Pellionia, Procris) và vô số các loài Dương xỉ ưa ẩm như Tectaria decurrens, T. deflexa và T. subpedata. Các loài địa lan như Cymbidium lancifolilum, Malaxis acuminata, Phaius. longicruris, Tropidia angulosa và T. curculigoides cũng rất phổ biến. Tất cả những loài thực vật này tạo nên một thảm thực vật tươi tốt trên sườn và vách đá dốc, đặc biệt là những nơi không được cây gỗ che bóng.

Sự phong phú và thành phần loài độc đáo là đặc trưng đối với hệ thực vật núi đá vôi của khu vực này. Vô số loài hiếm chỉ mọc ờ những khe nứt của những vách đá dựng đứng có thể được tìm thấy ở đây. Những cây mọc trên đá điển hình là các loài của các họ Acanthaceae, Begoniaceae (Begonia), Gesneriaceae, Rublaeae, Urticaceae, một số Dưong xỉ và những loài gần gũi như (Adiantum caudalum, A gravesii, Antrophyum sp., Asplénium spp., Colysis spp., Nephrolepsis cordlfolia, Polypodium sp., Pyrrosia spp., Selaginella spp.) và các loài Lan (Cheirostylis yunnanensis, Cleisostoma rostratum, Coelogyne fimbriata, Dendrobium chrysanthum, Hemipilia calophylla, I.iparis mannii, Paphiopedilum hirsutissimum, p. tranlienianum, Pholidota. Các loài lan lớn mọc trên đá như Acampe rigida,Cleisostoma rostratum, Cymbidium aloifolium, Dendrobium chrysanthum và Vandopsis gigantea. các loài Dương xỉ lớn như Asplelium antrophyoides, A. nidus và những cây leo bò trên đá như Dischldia acuminata, Dischidia sp., Hoya sp. (Asclepiadaceae) và Pothos repens, Pothos sp., Rhaphidophora spp. (Araceae) thường mọc phổ biến trên đá lộ sáng có rêu. Các loài rêu mọc trên cây và đá thường rất phổ biến, đặc biệt là những nơi có bóng râm, nhung chúng thường chỉ tạo nên một lớp phủ rất mỏng hoặc thưa thớt. Rêu thường không có trên mặt đất.
Các loài dây leo thân gỗ lớn gồm Acacia, Bauhinía, Entada phaseoloides, Pterolobium microphyllum (Fabaceae), Calamus (Arecaceae),-Embeba (Myrsinaceae), Jasminum (Oleaceae), Beaumontia grandiflora, Melodinus (Apocynaceae), Combretum (Combretaceae) và Tetrastigma (Vitaceae) rất điển hình cho kiểu rừng này, đặc biệt là trong những điều kiện ẩm ướt được che bóng ở sườn núi phía bắc. Cây bì sinh mà chủ yếu là các loài Lan rất phổ biến như Callostylts rígida, Cleỉsostosma fuerstenbergianum, c. striatum, Coelogyne fímbriata, Dendrobium lindleyi, Eria sutepensis, Luisla sp., Phalaenopsis mannii và Thelasis khasiana. Một loài Lan thân bò leo có thể dài tới 10-12 m là Vanilla sp., cũng rất phổ biến trong kiểu rừng này.

Paphiopedilum vietnamense mọc phổ biến trong những kẽ đá nứt, hố trên các sườn dốc và vách đá ẩm được che bóng, chú yếu trên những vách núi cao bị bào mòn của sườn bắc. Loài này thường được tìm thấy ở khu vực giữa của sườn núi của những đỉnh núi cao khoảng 350-450 m. Loài cây này nở hoa trong tự nhiên vào tháng 3. Trước đây, loài này thường tạo thành những đám lớn mọc cùng những loài Paphiopedilum ưa nóng khác như p.concolor, p.hirsutissimum var. esquirolei, p.tranlienianum và những loài Lan khác như Cleisostoma rostratum, Coelogyne fimbriata, Dendrobium chrysanthum, Hemipilia calophylla, Liparis mannli, Pholidota rubra, Podochilus microphyllus và Vandopsis gigantea. Đó là những loài điển hình cho thành phần loài Lan đá vôi ở đất thấp.




Những người thu mẫu địa phương nhận thấy rằng Paphiopedilum vietnamense ưa sống trên đá vôi trắng tinh khiết hơn trên những loại đá vôi có vết xám hay đen xám. Theo thông tin của họ thì hơn 80% cây được thu mọc trên đá vôi trắng tinh khiết, và chưa đến 20% trên đá có chứa oxit kim loại. Rất ít cá thể Paphiopedilum vietnamense được tìm thấy ở độ cao.trên 450 m, và càng ít hơn ở những sườn dốc lộ sáng gần đỉnh và những vách được bao phủ bởi những quần xã rừng tre nứa thứ sinh.
BIẾN THÁI: Vô số những bức ảnh về những cây được xuất khẩu và nở hoa trong vườn (Gruss & Pemer, 1999a,b; Senghas & Schettler, 1999a,b) đã cung cấp các dẫn liệu có giá trị về tính đa dạng hoa của Lan Hài Bóng. Những dạng này khác nhau chủ yếu về màu sắc hoa, hình dạng cánh hoa và môi. Thông thường thì cánh hoa trắng hoặc hồng tươi, ít nhiều có màu hồng-tía về chóp. Trong trường hợp khác cánh hoa có thể tía tươi và chỉ trắng ở phần gốc. Hình dạng của chúng có thể từ hình bầu dục thuôn tới hình trứng ngược rộng, cánh hoa có thể xòe ngang rộng, hoặc có thể ít nhiều treo thòng với mép trên thẳng. Môi biến đổi từ hình trứng ngược tới gần như hình cầu, có thể màu trắng với một điếm tím đỏ thẫm ở mặt trước hoặc hoàn toàn tím thẫm với phần gốc trắng.

"Ai sao chép lại bài viết vui lòng ghi rõ nguồn phonglanrung.com"
Share this article :

Không có nhận xét nào:

Cảm ơn bạn đã góp ý cho Phonglanrung.com

 
Copyright © 2011. Phong Lan Rừng | Hoa Lan | Bán Hoa Lan Rừng - All Rights Reserved
Template Created by Phong Lan Rừng